Biến Hóa Sinh Bệnh Lý Của Bệnh Tiểu Đường

Bệnh lý của bệnh tiểu đường

Bệnh lý của tiểu đường từ quan điểm y học hiện đại mà xét, bệnh tiểu đường là một loại bệnh do Insulin tuyệt đối thiếu, hoặc tương đối không đầy đủ dẫn tới. Insulin là một loại kích tố do tụy tạng tiết ra

Mối quan hệ giữa bệnh tiểu đường với Insulin

Tụy tạng là tuyến tiêu hóa lớn thứ hai ngoài can tạng ở trong cơ thể con người, là một phủ tạng hình sợi dài thường từ 12 đến 15cm, rộng từ 3 đến 4cm, dày từ 1,2 đến 2,5cm. Trọng lượng bình quân từ khoảng 66 đến lOOg, nằm ở phía sau dạ dày, phân chia ra bốn bộ phận là đầu, cổ, thân và phần cuối, nằm ngang ở vách sau xoang bụng tương đương với sống lưng đầu tiên. Thân của nó biểu thị xạ ảnh ở vị trí rìa trên ước khoảng lOcm bên trên lỗ rốn, rìa dưới tương đương khoảng 5cm bên trên lỗ rốn.

Bệnh lý của bệnh tiểu đường
Bệnh Lý Của Bệnh Tiểu Đường

Tụy tạng có hai công năng lớn đó là ngoại tiết và nội tiết, mỗi ngày tiết ra từ 1000 đến 2000 ml (cc) dịch tuyến tụy cho tá tràng, tham gia vào quá trình tiêu hoá, được gọi là công năng ngoại tiết.Còn một công năng nữa được gọi là công năng nội tiết, do tổ chức nội tiết trong tụy tạng (lá lách) – tụy tiết ra Insulin. Những người bình thường mỗi ngày lượng tiết ra Insulin khoảng 55 đơn vị. ở trong cơ thể, Insulin chủ yếu tham gia thay thế
cho đường, mỡ và chất albumỉn. Tụy còn có thể tiết ra chất kích tố (hormone) nội tiết khác, và các chất tăng đường cho tụy và các chất kìm hãm sinh trưởng… có quan hệ nhất định với việc phát sinh bệnh tiểu đường.

Insulin là kích tố quan trọng điều tiết sự thay thế của đường, tác dụng chủ yếu của nó là thúc đẩy đường glucô trong máu cơ thể người tiến vào tổ chức tế bào, thúc đẩy sự hợp thành đường nguyên (glucô), ức chế đường nguyên phân giải, giảm bớt đường dị sinh. Đường dị sinh là một con đường bổ sung cho đường huyết, Insulin ức chế quá trình biến thành đường trong gan của các chất không có đường như axít sữa, glyxêrin, một số axít amin v.v…

Ngoài ra, Insulin còn có thể tích luỹ lại số đường glucô còn thừa, nếu chế độ ăn nhiều chất carbohiđrát thì nồng độ glucô ở trong máu có thể tăng cao, Insulin sẽ đem số đường glucô thừa này biến thành glucôgen tích luỹ ở trong gan tạng. Trong gan tạng người bình thường có thể tích tồn được lOOg glucôgen để chuẩn bị dùng khi không đủ, khi đường huyết hạ thấp, glucôgen lại có thể biến thành đường glucô để đảm bảo nồng độ của đường huyết. Insulin còn có thể thúc đẩy đường glucô thừa biến thành mỡ để dự trữ. Vì vậy, Insulin là kích tố hạ thấp đường huyết duy nhất ở trong cơ thể.về phương diện thay thế mỡ, Insulin có tác dụng kìm hãm mờ bị phân giải, thúc đẩy mỡ hợp thành, hạ thấp mỡ máu.

Insulin còn có tác dụng xúc tiến chất albumin hợp thành và kìm hâm sự phần giải chất albumin của một số tổ chức như gan, mỡ và cơ tim.
Khi mắc bệnh tiểu đường chủ yếu là do chất Insulin không đủ mà dẫn tới sự chuyển hóa rối loạn. Trước tiên là rối loạn về sự chuyển hóa đường, chủ yếu là đường glucô lợỉ dụng giảm thiểu, tức là đường glucô tiến vào trong tế bào giảm thiểu, sự phân giải chuyển hóa trong tế bào giảm yếu, sự hợp thành thay đổi nhau chuyển hóa thành glucôgen cũng giảm yếu. Ngược lạl, quá trình glucôgen phân giải thành đường glucô được tăng cường, glucôgen dị sinh tăng lên nhiều, do dó dẫn tới đường huyết tang cao. Sau đó là rối loạn về sự chuyển hóa mỡ, do đường chuyển hóa rối loạn, việc cung cấp năng lượng không đủ, thúc đẩy một số khối lượng mỡ phân giải để bổ sung năng lượng, thế nhưng khi đường chuyển hóa rối loạn ảnh hưởng tới việc chuyển hóa của mỡ, khiến cho mỡ chưa thể ôxy hóa đầy đủ để phân giải thành anhiđrít cacbonic và nước, ngược lại đã sinh ra thành một khối lượng lớn thể xêtôn. Thể xêtôn ở trong máu tăng lên nhiều, đã hình thành chứng bệnh xêtôn. Thể xêtôn là sản vật mang tính axít, tuy nhiên ở thời kỳ đầu có thể thông
qua hệ thống hoãn xung của máu mà bị trung hòa,thế nhưng bệnh tình phát triển tới lượng thể xêtôn tăng lên nhiều, khi vượt quá năng lực của hệ thống hoãn xung của dịch thể thì lập tức có thể dẫn tới trúng độc axít. Khi nghiêm trọng vì ức chế hệ thần kinh trung ương mà dẫn tới hôn mê, đó là biến chứng nghiêm trọng nhất của bệnh tiểu đường.

Ngoài ra do thiếu Insulin, khiến cho đường glucô chuyển hóa tích mỡ mà lượng dự trữ giảm bớt, thường mắc phải bệnh máu cholesterol cao và bệnh mỡ cao trong máu, đều là những nhân tố quan trọng thúc đẩy thành bệnh biến chứng mạch máu tim. Thứ ba là rối loạn về việc chuyển hoá albumin chủ yếu là sự phân giải chuyển hóa chất albumin phát triển quá mức bình thường, cho nên thể cân bằng nitơ, axít anữn thành xêtôn tăng nhiều, khiến cho thể xêtôn trong máu tăng lên nhiều. Thứ tư là rối loạn về chuyển hóa nước và chất điện phân. Chủ yếu biểu hiện vì nguyên nhân đi tiểu nhiều khiến cho các chất như natrỉ, kali, clo, canxi… bài tiết tang nhiều, dẫn tới tình trạng mất muối và mất nước.

Tính cố định của đường huyết và sự điều tiết sinh lý bệnh lý tiểu đường của Insulin

Hàm lượng đường huyết của con người bình thường tương đối ổn định, đường huyết tĩnh mạch lúc chưa ăn là 3,9 đến 6,4mmol/L (70 đến 115mg/dl). Sau khi ăn cơm đường huyết có thể tang lên đến 8,9 đến lOmmol/L (160 đến 180mg/dl).

Ý nghĩa cố định của đường huyết là ở chỗ nó có thể vận chuyển đường glucô tới các tổ chức một cách bình thường (đặc biệt là tổ chức não) để chuyển hóa  hóa công năng, đồng thời lại dẫn đến không quá thấp quá cao mà sản sinh ra ảnh hưởng xấu đối với các cơ quan tổ chức trong cơ thể.

insulin hổ trợ bệnh lý của bệnh tiểu đường
Insulin hổ trợ bệnh nhân tiểu đường

Sở dĩ đường huyết của người bình thường có thể bảo đảm được sự cố định là vì nó đã tồn tạl tác dụng điều tiết của thần kinh, hormone và gan thận, mà lấy tác dụng điều tiết của hormone là chủ yếu. Kích tố hạ đường huyết chỉ có Insulin còn kích tố tăng đường tụy, kích tố tuyến thượng thận, kích tố sinh trưởng, kích tố tuyến giáp trạngv.v… đều làm tăng cao đường huyết. Sự phát sinhcủa đại đa số người mắc bệnh tiểu đường đều có liên quan đến việc thiếu Insulin.

Khi đưòng huyết ổn định, Insulin chủ yếu có hai con đường, một là tăng thêm con đường đi của đường huyết, thúc đẩy đưòng gluco tiến vào trong tế bào, tiến hành phân giải ôxy hoá, hoặc hợp thành glucôgen chuyển biến thành vật chất khác.Hai là giảm bót nguồn đến của đưòng huyết, kìm hãm sự phân giải và dị sinh của glucôgen, hạ thấp đường huyết.
Kích tố tăng đường tụy thúc đẩy glucôgen gan phân giải và thúc đẩy đường dị sinh, tăng cao đường huyết. Kích tố tuyến thượng thận khiến cho glucôgen gan, glucôgen cơ bắp tăng tốc độ phân giải. Loại tác dụng tăng cao đường huyết này yếu hơn kích tố táng đưòng tụy thụ tinh thần tác dụng thần kinh tương đối rõ rệt. Kích tố vỏ tuyến thượng thận có thể thúc đẩy đưòng dị sinh và kìm hãm ôxy hoá đường trong các tổ chức, khiến cho
đường huyết tăng cao. Kích tố sinh trưởng chủ yếu đối kháng với Insulin, kìm hãm đưòng glucô tiến vào tế bào cùng vói việc lợi dụng ôxy hóa của nó ở trong tế bào. Kích tố tuyến giáp trạng đã xúc tiến sự phân giải của glucôgen khiến cho đường huyết hạ thấp, lại thúc đẩy sự hấp thụ của đường glucô, sự phân giải glucôgen gan và đường dị sinh đã
khiến cho đường huyết tăng cao. Tác dụng sau cùng tương đối mạnh, cho nên tác dụng chung là tăng cao đường huyết.

Gan tạng là “kho tích trữ” đường huyết; khi đường huyết tăng cao, lượng đường tương đối nhiều, lập tức tiến vào tế bào gan, tích trữ glucôgen; hễ khỉ đường huyết hạ thấp, glucôgen phân giải, những vật chất không phải là đường củng thông qua đường dị sinh để bổ sung cho đường huyết.
Thận tạng là “đê đập” của đường huyết khl đường huyết cao tới từ 8,9 đến lOmmol/L, khi vượt quá tuyến cảnh giới thu về của thận tạng, thì đường sẽ từ trong nước tiểu bài tiết ra ngoài, xuất hiện tiểu đường, đây chính là phạm vi đường của thận.

Những nhân tố nào ảnh hưởng tới sự tiết ra Insulin?

Người lớn bình thường mỗi ngày tiết ra khoảng 55 đơn vị Insulin. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự tiết ra của Insulin chủ yếu có đường glucô, axít amin, hormone và các loại thuốc v.v…
Với điều kiện sinh lý, đường glucô là nhân tố chủ yếu kích thích tiết ra Insulỉn. Khỉ đường huyết ở trong phạm vi từ 3,9 đến 16,7mmol/L theo đà táng cao của đường huyết, việc tiết ra Insulin cũng được tăng lên nhiều. Đường glucô không chỉ thúc đẩy tế bào B trong tụy đem những hạt B tồn có chứa Insulin phóng ra ngoài, còn thúc đẩy hỢp
thành Insulin. Do đó trên lâm sàng người ta thường ứng dụng một lượng đường glucô để thí nghiệm chẩn đoán bệnh tiểu đường chính là bằng cách uống và tiêm vào tĩnh mạch một lượng lớn đường glucô, để tìm hiểu công năng tiết ra tế bào B trong tụy xem có bình thường hay không.

Phương pháp này là phương pháp tương đối thực dụng để chẩn đoán bệnh tiểu đường ở thời kỳ đầu.Vì vậy đối với việc chữa trị cho người mắc bệnh nhẹ ở thời kỳ đầu phải sử dụng biện pháp khống chế ăn uống hạn chế hấp thụ đường, giảm bớt sự kích thích của đường đối với tế bào B, từ đó khiến cho tế bào B trong tụy đưỢc lưu dưỡng sinh sôi,
từng bước khôi phục công năng tiết ra.
Các thức ăn hàm chứa prôtêin hoặc axít amin cùng có thể kích thích việc tiết ra Insulin. Cường độ tác dụng của mỗi loại axít amin khác nhau củng không giống nhau, tác dụng của axít amln tinh và axít amin sáng mạnh nhất. Có những đứa trẻ sau khi dùng sữa bò và trứng gà hàm chứa axít amin sáng thường khiến cho Insulỉn được tăng cường tiết ra rõ rệt, tạo thành chứng đường huyết thấp mang tính tự phát. Ngoài ra, như trên đã nói, các kích tố như kích tố tạng cao đường tụy v.v… đều có thể thúc đẩy Insulin tiết ra được kích tố tuyến thượng thận có tác dụng kìm hãm Insuhn tiết ra.

Thường dùng thuốc hạ đường để uống như Giáp hoàng đinh niệu, ưu hạ đường, Caphêin, Trà kiềm…đều có thể thúc đẩy Insulin tiết ra,nhưng sản phẩm được đánh giá tốt nhất là Thanh Đường Gamosa Học Viện Quân Y. Thế nhưng các loại thuốc lợi tiểu đều có tác dụng ức chế Insulin tiết ra, vì vậy đối với người mắc bệnh tiểu đường cần phải thận trọng khi sử dụng.

thanh đường gamosa học viện quân y
Thanh Đường Gamosa – Dược Phẩm Học Viện Quân Y

Sự chuyển hóa của Insulin và những nhân tố ảnh hưởng tới nó

Insulin chủ yếu được phân bố ở trong thận, cơ vân ngang và gan tạng, tổng cộng ở ba vị trí này chiếm khoảng trên một nửa tổng lượng toàn thân.

Sau khi Insulin được tế bào B tiết ra, qua cửa tĩnh mạch tiến vào gan tạng, sau đó lại qua tĩnh mạch gan tiến vào đại tuần hoàn, được vận chuyển tới các tổ chức trong toàn thân. Gan tạng có thể điều tiết số lượng Insulin tiến vào đại tuần hoàn trong cơ thể. ở trong các tổ chức cơ thể Insulin đều có thể bị tiêu trừ, chủ yếu bị tiêu trừ ở trong gan, thận, bắp thịt, một số lượng ít cũng theo nước tiểu bài tiết ra ngoài.

Những nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển hóa của Insulin có các bệnh về gan, thận và bệnh tiểu đường, những nhân tố khác như hormone, thức ăn, vận động, sinh đẻ v.v… đều có thể ảnh hưởng tới sự chuyển hóa của Insulin.

Các loại bệnh tật của gan tạng đều có thể khiến cho lưu lượng máu của gan tạng giảm bớt ở những mức độ khác nhau, hạ thấp công năng gan, do đó lượng Insulin tiến vào trong gan bị giảm bớt, công năng tiêu trừ của gan tạng đối với Insulỉn cũng giảm thoái tương ứng. Đồng thời bản thân gan tạng lợi dụng năng lực hạ thấp của đường, mà sự biến đổi
của việc chuyển hóa đường lại có thể quay trở lại ảnh hưởng tới sự tiết ra với hợp thành của Insulin.Vì vậy các bệnh tật của gan tạng có thể ảnh hưởng tới sự chuyển hóa Insulin từ nhiều mặt.

Người bệnh tiếp nhận sự chữa trị của Insulin vì trong cơ thể của họ đang tồn tại kháng thể của Insulin, nó có thể kết hỢp với Insulỉn, do đó đã kiềm chế được sự phân giải của Insulỉn, tức là tốc độ tiêu trừ bị giảm chậm.

Vì chủng loại của các bệnh thận tạng khác nhau, mức độ giảm bớt lưu lượng máu của thận khác nhau, vì thế đối vối ảnh hưởng của việc chuyển hóa Insulin cũng khác nhau.
Trong thức ăn nếu thiếu các chất như prôtêin,vltamin B5, vitamin B2, sức sống của men Insulin hạ thấp, còn thức ăn đường cao có thể tăng cường hoạt tính của men Insulin, thúc đẩy sự chuyển hóa của Insulin.
Vận động khiến cho cơ thể tăng cường tiết ra chất kích tố tuyến thượng thận, lưu lượng máu của gan thận cũng giảm bớt, kiềm chế được sự tiết ra của Insulin khiến cho sự phân giải Insulin chậm lại.
Khi có thai do tổ chủc của nhau thai tham dự vào việc phân giải Insulin, vì vậy thòi kỳ này sự phân giải Insulin đã tăng nhanh.

Bệnh tiểu đường với y học tâm thần

Thực tế lâm sàng cho thấy hoạt động tình cảm có thể ảnh hưởng tới sự tiết ra của Insulin. Ví dụ khi con người lâm vào trạng thái gay go, cáng thẳng, đối với những kích tố kháng Insulin như kích tố tuyến thượng thận, kích tố lớp vỏ tuyến thượng thận v.v… tăng lên nhiều, đường huyết tăng cao. Khi con người cảm thấy cô độc tuyệt vọng hoặc u uất, có khi có thể xuất hiện tiểu đường, dẫn đến lượng cần thiết của Insulin tang thêm. Trái lại, khi tình cảnh sinh hoạt và sự xung đột tình cảm tan biến khiến cho người bị bệnh tiểu đường cảm thấy an toàn và thoả mãn, có khỉ có thể kèm theo phát sinh ra phản ứng đường huyết thấp, đường trong nước tiểu giảm nhẹ, dẫn tới lượng nhu cầu của Insulin giảm thiểu.

Căn cứ vào sự nghiên cứu về các phương diện đối với sinh lý học bệnh lý, di truyền và chữa trị v.v… của bệnh tiểu đường đã chứng minh được rằng, bệnh tiểu đường không chỉ có liên quan với tố chất di truyền mà còn có quan hệ tới nhân tố tâm lý. Vì vậy con người càng ngày càng coitrọng nhân tố tâm lý và xã hội đối với ảnh hưởng của bệnh tiểu đường. Nói chung là những kích thích căng thẳng có thể khơi gợi hoạt động tình cảm rồi dẫn tới phản ứng nội tiết thần kinh đặc thù. Khỉ cường độ và thời gian kéo dài liên tục của hoạt
động tình cảm và phản ứng cơ thể, đối với cá nhân con người đạt tới mức độ làm tổn hại công năng của cơ thể, thì sẽ xuất hiện sự biến hóa bệnh lý về công năng và kết cấu tổ chức của cơ thể. Thế nhưng do tố chất cá thể, hoàn cảnh tình cảm cùng với những tác dụng tương hỗ của mỗi người với hoàn cảnh khác nhau, những phản ứng tâm lý sinh lý sản sinh ra có sự khác biệt tương đối lớn.

Cho nên những phản ứng tâm lý sinh lý của cá nhân không chỉ có quan hệ tới tính chất, cường độ và thời gian kéo dài liên tục của những kích thích căng thẳng mà còn có quan hệ với tình cảm, sự thể nghiệm cùng với năng lực thích ứng và ứng phó đối với những kích thích của cá nhân, tức là có quan hệ tới vãn hóa xã hội, tính cách, từng trải
cuộc sống và tố chất di truyền cá nhân.

Tuy trước mắt chưa thể hoàn toàn trình bày rõ cơ chế thiết thực chính xác nhân tố tâm lý xã hội và phản ứng tình cảm ảnh hưởng tới bệnh tiểu đường, hơn nữa nhân tố tâm lý xã hội không có tác dụng mang tính chất đặc dị đối với việc phát sinh và tiến triển của bệnh tiểu đường, thế nhưng kết quả quan sát lâm sàng và thực nghiệm có thể khẳng định rằng nhân tố tâm lý xã hội và phản ứng tình cảm có ảnh hưởng quan trọng đối với bệnh tiểu đường.

Ví dụ người mắc bệnh tiểu đường thường vì tình cảm căng thẳng mà bệnh tình càng nặng, bệnh nhân phát sinh trúng độc axít và hôn mê thường có liên quan tới trở ngại của tình cảm. Khi mệt mỏi, căng thẳng, suy sụp hoặc bị kích động, cơ thể có nhu cầu tang thêm đối với Insulỉn, kết quả đã khiến cho triệu chứng của bệnh tiểu đường tang nặng, thậm chí còn phát sinh hôn mê. Nghiên cứu thực nghiệm còn chứng thực, sau khi tiến hành hội đàm mang tính ứng phó đối với người bệnh tiểu đường, khuynh hướng biến động mà sự chuyển hóa của người bệnh chỉ ra là chứng bệnh xêtôn. Trong lịch trình bệnh của bệnh tiểu đường đang tồn tại các hoạt động tâm lý. Chẳng những nhân tố tâm lý ảnh hưởng đến bệnh tật của cơ thể, hơn thế, bản thân bệnh tật củng trực tiếp ảnh hưởng đến tính cách và trạng thái tinh thần của người mắc bệnh. Tình cảm mà bản thần bệnh tật dẫn đến đã gây trở ngại đối với hành vi của người bệnh và mức độ hỢp tác chữa trị cũng sản sinh ra ảnh hưởng. Bệnh tiểu đường có thể dẫn tới sự trở ngại về tâm lý, lại có thể đồng thời xuất hiện với bệnh tiểu đường hoặc xuất hiện ở trong quá trình khôi phục sức khỏe, khiến cho việc khôi phục sức khỏe bị chậm lại, thúc đẩy bệnh tình phát sinh trở lại. Có khỉ bệnh tật cũ ở trong cơ thể đã bị tiêu trừ, trở ngại tâm lý vẫn có thể phát sinh tác dụng quan trọng đối với việc dẫn tới bệnh tình ở trong cơ thể trở thành bệnh mạn tính.

Căn cứ vào nghiên cứu của y học thân tâm, tính cách và tình cảm của người mắc bệnh tiểu đường là nhân tố quan trọng có quan hệ tới bệnh tiểu đường. Ví dụ, hễ khi người bệnh tiểu đường biết được bản thân mình đã mắc bệnh tiểu đường hầu như đều có thể xuất hiện tình cảm lo lắng và đau buồn u uất ở những mức độ khác nhau, có khi có thể phát triển thành cảm giác quá lo lắng tới sức khỏe bản thân và bệnh trạng nghỉ ngờ tật bệnh, hoặc hình thành khuynh hướng cưỡng bức, có thể trở thành cơ chế phòng ngự nghiêm khắc đối xử với bệnh tật, luôn luôn có thể tiếp nhận những hạn chế trên nhiều mặt của đời sống.
Đương nhiên những tiết chế nhằm khôi phục sức khỏe đối với bệnh này là điều cần thiết, thế nhưng vì người bệnh quá hạn chế, thực hành khống chế nghiêm khắc đối với toàn bộ đời sống, ngược lại đã bất lợi đối việc khôi phục sức khỏe. Còn có một số bệnh nhân mang tính xung động, ôm ấp tình cảm đối địch, phản kháng đối với những người xung quanh, hơn thế có khỉ còn cố chấp, đa nghỉ. Những bệnh nhân thuận theo thì có thể biến
thành rụt rè sợ hãi, chấp nhận một cách máy móc. Vì bệnh nhân đòi hỏi phải khống chế ăn uống và dùng thuốc để chữa trị, có thể ảnh hưởng đến công tác và hôn nhân, cộng thêm bệnh lâu không khỏi và lại có thể xuất hiện các loại triệu chứng bệnh, thường khiến cho bệnh nhân cảm thấy tình hình không sáng sủa và tự tỉ, nên đã xuất hiện sự phiền não và thất vọng.Vì vậy người mắc bệnh tiểu đường ngoài việc khống chế ăn uống và dùng thuốc ra còn cần phải điều chỉnh sự cân bằng tâm lý.Xoá bỏ những nhân tố kích thích tâm lý căng thẳng trong gia đình và xã hội, thúc đẩy sự khôi phục nhanh sức khỏe đối với bạn.


TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

Chế độ thể thao cho người bệnh tiểu đường
Chế độ thể thao cho người bệnh tiểu đường là vấn đề được hội người cao tuổi rất quan tâm.Vì độ tuổi từ 40-65 chiếm hơn 80% các ca bệnh ...
Xem Chi Tiết
Dinh dưỡng cho người bệnh tiểu đường
Dinh dưỡng cho người bệnh tiểu đường cần đảm bảo cung cấp dinh dưỡng đầy đủ chất lượng giúp để có thể điều chỉnh tốt đường huyết, duy trì cân ...
Xem Chi Tiết
Điều trị bệnh tiểu đường hiện nay rất khó khăn,nếu không có kế hoạch ăn uống và pháp đồ điều trị hợp lý thì dẫn đến biến chứng không lường ...
Xem Chi Tiết
Biến chứng của bệnh tiểu đường
Biến chứng của bệnh tiểu đường bao gồm biến chứng cấp tính và biến chứng mạn tính. Biến chứng cấp tính có trúng độc axít xêtôn, hôn mê mang tính ...
Xem Chi Tiết
Bệnh lý của bệnh tiểu đường
Bệnh lý của tiểu đường từ quan điểm y học hiện đại mà xét, bệnh tiểu đường là một loại bệnh do Insulin tuyệt đối thiếu, hoặc tương đối không ...
Xem Chi Tiết
Bệnh tiểu đường là căn bệnh rất phức tạp
Tiểu đường căn bệnh phức tạp diễn ra trong nhiều năm mà không hề đưỢc phát hiện. Trước khi có biểu hiện,bệnh có thể gây tổn thương cho các cơ ...
Xem Chi Tiết
insulin chữa bệnh bằng thuốc tây y
Insulin là gì ? Đó là một loại hormone do các "tế bào đảo tụy" của tuyến tụy tiết ra với tác dụng chuyển hóa carbohydrate. Ngoài ra, hormone Insulin ...
Xem Chi Tiết
bệnh tiểu đường
Đái tháo đường là gì? Đái tháo đường (tiểu đường) là xuất hiện đường trong nước tiểu (bình thường không có), làm cho nước tiểu có vị ngọt. Đây là ...
Xem Chi Tiết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

0382835160